Văn mẫu lớp 12

Phân tích truyện ngắn Vi hành của Nguyễn Ái Quốc

Phân tích truyện ngắn Vi hành của Nguyễn Ái Quốc – Bài làm 1

Truyện ngắn “Vi hành” của Nguyễn Ái Quốc được viết trong dịp vua Khải Định “vi hành” sang Pháp để tham dự triển lãm ở Maxay. Tuy  nhiên những hành động mờ ám của vua Khải Định lại khiến nhiều người bất bình, không đồng lòng. Nguyễn Ái Quốc đã lấy bối cảnh đó để mỉa mai, châm biếm hành vi lén lút của một ông vua triều đại phong kiến.

kienthuc khai dinh di phap 06eyxp xhsv - Phân tích truyện ngắn Vi hành của Nguyễn Ái Quốc

Ngay từ nhan đề, người đọc đã nhận ra giọng mỉa mai, châm biếm rất sâu cay. “Vi hành” được hiểu là hành vi đi du ngoạn để quan sát tình hình dân chúng một cách bí mật, không công khai nhưng vua Khải Định lại làm trò lố, lợi dụng việc chung để làm việc cá nhân của mình. Giọng văn nhẹ nhàng nhưng đầy hàm ý đã khiến cho người đọc hình dung được sự thối nát của một ông vua.

Điều đặc biệt chính là Nguyễn Ái Quốc đã chuyển thể nội dung bằng cách cho cô em gái. “Bức thư đặc biệt” đó đã vạch trần ra được sự lố lăng, kệch cỡm, ngây ngô của vua Khải Định trên đất bạn xa xôi. Câu chuyện được xâu chuỗi bằng những sự việc, hiện tượng diễn ra hằng ngày trong suốt chuyến đi của Khải Định. Cuộc trò chuyện của cặp trai gái trẻ người Pháp về vua Khải ĐỊnh khiến tác giả vỡ ra rất nhiều điều.

Dân chúng Pháp đều cho rằng ai da vàng, mũi tẹt, mắt xếch thì đó chính là vua An Nam. Và bọn thực dân đã nhầm lân vua Khải ĐỊnh với Nguyễn Ái Quốc nên đối đãi rất tốt với ông.

Nguyễn Ái Quốc đã khéo lẹo bịa ra những tình huống hay ho, nhưng là bịa như thật, khiến cho người nghe bị cuốn hút vào mạch kể đó. Qua lời của đôi trai gái thì chúng ta có thể nhận ra được Khải ĐỊnh là ông vua “mặt mũi ngây ngô, điệu bộ lúng ta lúng túng, mũ mãng lố lăng”. Thực ra trong mắt của người dân Pháp thì vua Khải Định thật đáng khinh và bị xem thường ở khắp mọi nơi.

Lối dẫn dắt câu chuyện tự nhiên khi kể mọi việc cho cô em gái nghe, Nguyễn Ái Quốc đã làm tăng tính chân thực và hấp dẫn của sự thật. Tác giả đã tố cáo tội ác của Khải Đinh đối với nhân dân ta, đất nước ta. Đớ chính là việc đầu độc nhân dân ta bằng thuốc phiện và rượu độc đầy nham hiểm, hăn chỉ quan tâm đến lợi ích của hắn còn lợi ích của quốc gia thì bỏ mặc.

Giọng điệu đầy mỉa mai, sâu cay khiến cho người dân vô cùng căm phẫn trước tội ác, sự lố lăng của một ông vua đáng khinh bỉ.

Với cách viết giản dị, chân thực và những tình huống hay ho Nguyễn Ái Quốc đã vạch ra bộ mặt thật của một ông vua đáng trách, đẩy nhân dân vào bước đường cùng.

Phân tích truyện ngắn Vi hành của Nguyễn Ái Quốc – Bài làm 2

Nhắc đến trào phúng Việt Nam người ta nhớ đến ngay các tác phẩm của Tú Xương, …của nền trung đại. Ở thời hiện đại, trào phúng vẫn được dâng cao. Đặc biệt tác phẩm của . Không chỉ thế người ta còn biết đến bút pháp trào phúng  của Nguyễn Ái Quốc. Vốn là một nhà chính trị, Người không nhận mình là một nhà thơ, nhà văn mà mục đích cầm bút của Người là dùng văn chương như là một vũ khí để đấu tranh tư tưởng và khêu dậy ý chí chiến đấu của nhân dân. Tác phẩm trào phúng của bác chính là truyện ngắn Vi hành. Với nghệ thuật trào phúng Nguyễn Ái Quốc đã phơi bày bản chất tàn bạo, giả dối của chế độ thực dân Pháp. Cũng với nghệ thuật ấy, Người bày tỏ thái độ khinh bỉ đối với bọn vua quan bù nhìn bán nước cầu vinh, chỉ riêng đối với sự kiện Khải Định sang Pháp dự cuộc Đấu xảo thuộc địa. Nguyễn Ái Quốc đã sáng tác truyện ngắn Lời than vãn của bà Trưng Trắc và vở kịch Con rồng tre lên án và chế giễu sâu cay ông vua bù nhìn. Nhân kỉ niệm một năm chuyến đi ô nhục ấy, Nguyễn Ái Quốc lại viết truyện ngắn Vi Hành, biến Khải Định thành đối tượng của những cuộc đàm tiếu khinh bỉ..

Truyện ngắn Vi hành được đăng trên báo Nhân Đạo, tác phẩm đã tố cáo được bộ mặt của chính quyền thực dân Pháp và sự lừa bịp của “quốc mẫu” Khải Định. Ngay từ tiêu đề của tác phẩm, không phải ngẫu nhiên “đứa con tinh thần” của Bác có tên như vậy, mà đó là sự trăn trở của những người sáng tạo ra nó. Bởi lẽ nó đặt làm sao để tên gọi ấy tạo lên được tư tưởng chủ đề của tác phẩm, không chỉ thế nó còn phải gây sự tò mò hấp dẫn người đọc. Nguyễn Ái Quốc đặt tên tác phẩm là Vi hành, hai từ này thường được dùng cho những bậc vua chúa xưa kia đi khảo sát dân tình đóng giả làm dân thường không cho ai biết. Đi một cách bí mật nhằm hiểu được cuộc sống của nhân dân khổ cực đến đâu và có bị áp bức bóc lột không. Đặc biệt, khi đi vi hành không được lấy tên thật của mình mà phải lấy tên giả. Nhưng, trong tác phẩm này của tác giả, Nguyễn Ái Quốc lại chỉ ra khi đi vi hành Khải Định vẫn lấy cái tên của mình và ông vua này không đi xem dân tình thế đất nước mình như thế nào mà đi sang nước Pháp. Như vậy, Khải Định đâu có phải là đi vi hành thực sự vì dân, lo cho dân mà thật sự hắn đang đi giúp nước xâm lược trên chính đất nước của mình. Ngay ở nhan đề của tác phẩm, tác giả đã cho thấy một sự châm biếm sâu cay.

Mở đầu câu truyện một cách khách quan, tác giả không để Khải Định xuất hiện trực tiếp mà thông qua lời kể của hai nhân vật nam nữ thanh niên kể về Khải Định. Việc đàm tiếu về trang phục nhà vua do đôi thanh niên nam nữ người Pháp thực hiện. Lợi dụng cách cảm nhận ngộ nghĩnh của họ đối với cách ăn mặc xa lạ. Nguyễn Ái Quốc đã biến ông vua thành một trò cười rẻ tiền: đầu đội chụp đèn, quấn khăn, tay đeo đầy nhẫn, mũi tẹt, mắt xếch, mặt bủng như quả chanh, không một chút uy nghi, đường vệ. Hơn thế, người bạn gái đã trông thấy nhà vua, hình dung vua là người “đeo lên người hắn đủ cả bộ lụa là, đủ cả bộ hạt cườm“, y như một mụ đàn bà. Còn người thanh niên thì xem vua như một trò vui mắt không phải mất tiền như xem “vợ lẽ nàng hầu vua Cao Miên”, hoặc “trò leo trèo, nhào lộn của sư thánh xứ Công Gô”. Thậm chí còn tung tin Nhà hát Múa rối định ký hợp đồng thuê nhà vua biểu diễn! Thật không còn lời báng bổ, khinh miệt nào hơn đối với một đức Hoàng Thượng! Nhưng đó là sựthật: Khải Định chỉ đóng được một vai hề rẻ tiền trong lịch sử!.Đều là đả kích tên vua nô lệ nhưng nếu Nguyễn Ái Quốc công khai đả kích một cách trực tiếp thì thế giới sẽ thấy được người Việt Nam lên án chính người Việt Nam phản quốc. Vì vậy, Nguyễn Ái Quốc đã rất tinh tế khi xây dựng tình huống trên.

Chính những lời thoại hết sức khôi hài của hai thanh niên người Pháp, từ đó cho thấy bộ mặt của Khải Định rất đáng chê cười, và cái đích cuối cùng của tác giả khi nói đến Khải Định nhằm mục đích chỉ ra đây đích thị là một ông vua bù nhìn, giống như một con rối để cho thực dân Pháp sai khiến chỉ đạo chứ không phải là một ông vua của một đất nước.

Nếu như dừng ở đây, chắc hẳn bộ mặt bỉ ổi của Khải Định vẫn chưa hiện lên đầy đủ, mà tác gải còn lột tả tiếp, sự châm biếm lên đỉnh điểm.  Đó chính là tác giả để cho nhân vật tôi bình luận về chuyến đi sang Pháp của tên vua “Phải chăng là ngài muốn biết dân Pháp, dưới quyền ngự trị của bạn ngài là Alêchxăng đệ Nhất, … có được uống nhiều rượu và được hút nhiều thuốc phiện bằng dân Nam, dưới quyền ngự trị của ngài, hay không?(…). Hay là, chán cảnh làm một ông vua to, giờ ngài lại muốn nếm thử cuộc đời các cậu công tử bé?”. Không chỉ tố cáo bộ mặt xấu xa của tên vua Khải Định, Nguyễn Ái Quốc còn tố cáo thực dân Pháp. Những người luôn tự nhận mình là nền   và bảo hộ khai hóa nền cho nước ta. Nhưng thực chất mục đích của chúng là cướp nước ta, áp bức bóc lột dân tộc ta với những chính sách tàn bạo. Đây cũng chính là những tội ác của chúng.

Có thể thấy và cảm nhận được những chua chát, cay đắng trong nụ cười ở đây.  Đó là nghệ thuật mỉa mai, châm biếm có tính chất chính luận hết sức già dặn. Tất cả các chữ dùng đều được sử dụng rất đắt và phát huy tác dụng châm biếm tối đa. Chẳng hạn gọi vua Pháp là “bạn” của vua Nam hoặc nói cảnh sát Pháp theo dõi như  “mẹ hiền rình con thơ”. Và đó cũng chính là nghệ thuật trào phúng để nhằm châm biếm tên vua bán nước Khải Định và những tội ác của bọn thực dân gây ra cho nhân dân ta.

Phân tích truyện ngắn Vi hành của Nguyễn Ái Quốc – Bài làm 3

Trong nền văn học Việt Nam văn học trào phúng cũng là một phần đạt được nhiều thành tựu trong việc truyền tải ý nghĩa của tác phẩm đối với đời sống này. Nếu như trước đây chúng ta biết đến Tú Xương với Nguyễn Khuyến, hay hiện đại có Vũ Trọng phụng nổi tiếng với tiểu thuyết số đỏ thì ta cũng biết đến bút pháp trào phúng của Nguyễn Ái Quốc. Người vốn không bao giờ nhận mình là nhà văn nhà thơ mà chỉ lấy văn chương là một vũ khí để đấu tranh tư tưởng với địch và khơi dậy ý chí chiến đấu của nhân dân mà thôi. Chính vì mục đich ấy mà văn chương Bác cần đến nghệ thuật trào phúng sâu cay này. Tác phẩm trào phúng của Bác là truyện ngắn Vi hành. Qua truyện ta thấy được sự đáng cười chê và cái lố lăng kệch cỡm của vua Khải Định trong chuyến sang Pháp.

Truyện ngắn này được đăng trên báo Nhân Đạo ngày 19-2-1923. Đây là cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Pháp. Năm 1922 thực dân Pháp đưa vua bù nhìn Khải Định sang dự cuộc đấu xảo thuộc địa ở Mác xây, lừa gạt nhân dân Pháp, khẳng định tình hình ở Đông Dương rất ổn định.Để đập tan âm mưu trên Nguyễn Ái Quốc đã viết tác phẩm Vi hành cùng với tác phẩm Con rồng tre ,Lời than vãn của bà Trưng Trắc. Tác phẩm đã tố cáo được bộ mặt của chính quyền thực dân Pháp và sự lừa bịp của “quốc mẫu” Khải Định.

Trước hết là nhan đề của tác phẩm. Để đặt tên cho đứa con tinh thần của mình là cả sự suy nghĩ trăn trở của những người sáng tạo ra nó. Bởi lẽ đặt làm sao để tên gọi ấy có thể toát lên được chủ đề tư tưởng của tác phẩm. Đồng thời gây sự tò mò hâp dẫn người đọc. Hồ Chí Minh đã đặt tên cho đứa con tinh thần của mình là vi hành. Hai từ này được sử dụng để chỉ cho những bậc vua chúa xưa kia đi khảo sát dân tình đóng giả làm dân thường không cho ai biết. Đi một cách bí mật nhằm hiểu dược đời sống của nhân dân đến đâu. Chỗ nào mình còn chưa làm được cho nhân dân, nơi nào loạn, nơi nào nghèo. Đặc biệt khi vi hành thì không thể lấy cái tên thật của mình mà phải lấy tên giả, lén lút đi. Thế nhưng ở đâycua Khải Định vẫn lấy cái tên của mình và ông vua này không phải đi xem dân tình thế thái ở đất nước mình ra sao mà là đi sang nước pháp. Có thể nói ngay nhan đề của tác phẩm tác giả đã tạo nên một sự châm biếm sâu cay. Khải Định đâu có đi vi hành thật sự mà hắn đang đi giúp nước xâm lược xâm chiếm chính đất nước mình.

Để mở đầu cho sự đả kích và cười mỉa mai tên vua bù nhìn Nguyễn Ái Quốc đã dựng lên một đoạn đối thoại giữa hai thanh niên nam nữ khi trông thấy Khải Định. Cách mở đầu và xây dựng lên truyện như thế khiến cho câu chuyện về tên vua bù nhìn trở nên khách quan chân thực hơn. Đều là đả kích tên vua nô lệ đấy nhưng nếu Nguyễn Ái Quốc công khai đả kích Khải Định một cách trực tiếp thì thế giới sẽ thấy được người Việt Nam lên án chính người Việt nam phản quốc. Như thế thì đối đầu nhau không khách quan. Còn ở đây tác giả dùng đoạn hội thoại của đôi nam nữ chính nước xâm lược mình để thấy rõ được bộ mặt kệch cỡm của tên vua bù nhìn ấy. Đây quả thật là một sự lựa chọn sáng suốt của Người. Không những thế Bác còn rất khéo léo khi xây dựng lên một tình huống nhầm lẫn để bộc lộ bản chất của Khải Định. Người mà đôi thanh niên nam nữ kia nhìn thấy lại chính là Nguyễn Ái Quốc. Sự nhầm lẫn của họ vô tình đã góp phần vào sự đả kích tên vua nô lệ. Người phương Tây họ khó phân biệt được bộ mặt khác nhau của người da vàng. Chính phủ Pháp lại cho rằng bất cứ người An Nam nào cũng được cho là vị hoàng đế.  Từ đó ta hiểu được những nhận xét của người Pháp về Khải Định.

Chân dung của tên vua Khải Định hiện lên với những nét rất châm biếm. Bộ mặt thì mũi tẹt, mắt xanh, da bủng. Đó hẳn là một bộ mặt ngộ nghĩnh, lố bịch.  Còn trang phục của hắn thì sao?. Cái nón chúp đèn, quấn khăn, ngón tay đeo đầy nhẫn và hạt cườm, đủ bộ lụa là. Nói tóm lại nhìn trang phục của hắn như kiểu khoe của lố lăng. Nhìn hắn chẳng khác nào tên hề, một con rối không hơn không kém. Không những thế, đôi thanh niên nam nữ ấy còn so sánh vua Khải Định với những trò ở đấu xảo một cách khôi hài, phải trả hẳn một nghìn rưỡi phơ răng để xem. “Hôm nay chúng mình không mất tí tiền nào đâu mà được xem vua ngay bên cạnh”. Đó là những lời thoại hết sức khôi hài của hai thanh niên. Từ đó cho thấy bộ mặt của Khải Định rất đáng cười. Họ nghĩ rằng có thể các nhà hát và múa rối có thể kí kết với hắn để làm thuê nữa. Vậy chẳng khác nào nói vua Khải Định là một con rối. Thì cái đích mà tác giả muốn nói với bạn đọc là như thế. Khải Định giống như một con rối để cho thực dân Pháp sai khiến chỉ đạo đúng hơn là một ông vua của một nước.

Đến đây ta có thể thấy được sự miêu tả, đả kích một cách tài tình của tác giả đối với tên vua bù nhìn Khải Định, hắn hiện lên dưới nhiều góc độ, qua giọng văn châm biếm, mỉa mai rất nhẹ nhàng của tác giả. Hình ảnh một vị vua cuối cùng cũng chỉ là một trò giải trí rẻ tiền dưới con mắt của người Pháp không hơn không kém.

Nhưng cuộc vi hành chưa dừng lại ở đó, nếu dừng lại ở đó thì làm sao có thể thấy hết được bộ mặt của tên vua xâu xa ấy. tác giả để cho nhân vật tôi bình luận về chuyến đi sang Pháp của tên vua này. Để tố cáo vạch trần bộ mặt xấu xa và thực chất của chuyến đi này của tên vua Khải Định thì Nguyễn Ái Quốc đã nêu lên hàng loạt các câu hỏi lấp lửng mang tính chất giễu cợt: “Phải chăng là ngài muốn biết dân Pháp, dưới quyền ngự trị của bạn ngài là A-lếch-xăng Đệ nhất có được sung sướng, có được uống nhiều rượu và được hút nhiều thuốc phiện bằng dân Nam, dưới quyền ngự trị của ngài, hay không ?. Hay là, chán cảnh làm một ông vua to, bây giờ ngài lại muốn nếm thử cuộc đời của các cậu công tử bé ?”.

Không chỉ tố cáo vạch trần bộ mặt xấu xa của tên vua Khải Định mà Người còn tố cáo thực dân Pháp. Những người luôn tự nhận mình là văn minh và bảo hộ khai hóa nền văn minh cho nước ta. Thực chất của chúng là cướp nước ta, biến nước ta thành nô lệ. Chính sách và chế độ của họ chính là tội ác họ gây ra với dân tộc ta.

Trước hết điều đó thể hiện rõ nhất là đôi nam nữ kia. Họ đi cười vua Khải Định nhưng thật ta cũng đang cười chính bản thân mình. Bởi vì họ là người “khai hóa” văn minh nhưng lại là người đầu tiên kì thị chủng tộc. Họ chê người da vàng mặt bủng như quả chanh.

Tiếp đến là tác giả tố cáo chính sách tàn ác của thực dân Pháp. Chẳng biết khai hóa văn minh kiểu gì mà lại dùng thuốc phiện và rượu để làm suy nhược giống nòi của ta. Thế chẳng khác nào giết người cả mà lại đi tung tin với thế giới rằng khai hóa văn minh. Nhưng việc làm của chúng đi ngược lại với những điều chúng nói.

Mặt khác nhà văn còn tố cáo chế độ mật thám của thực dân Pháp. Đến chính phủ Pháp cũng nhầm lẫn cho nên chúng lệnh cho mật thám theo dõi tất cả những người có da vàng. Đó quả là một điều ngu dốt. Chúng đón tiếp những người da vàng như thượng khách một cách nhiệt tình và hết sức tận tụy. Ngay cả nhân vật tôi cũng được đón tiếp theo cách ấy. Nếu họ mà không thấy “tôi” đâu thì lại cuống cuồng hết cả lên.

Tóm lại qua truyện ngắn vi hành Hồ Chí Minh đã vạch trần bộ mặt xấu xa của tên vua Khải Định. Bằng hàng loạt những câu từ châm biến, lời nói mỉa mai, đặc biệt là tình huống nhầm lẫn đã gây hiệu ứng mạnh trong việc tố cáo bộ mặt tên vua nô lệ và chính sách cai trị của bọn thực dân Pháp. Chúng đang cấu kết với nhau lừa gạt dư luận nhưng những người yêu nước như Hồ Chí Minh sẽ không bao giờ để cho chúng đạt được mục đích xấu xa ấy.

Phân tích truyện ngắn Vi hành của Nguyễn Ái Quốc – Bài làm 4

Trong sáng tạo văn học của Nguyễn Ái Quốc nghệ thuật trào phúng chiếm một vị trí đặc biệt. Với nghệ thuật trào phúng Nguyễn Ái Quốc đã phơi bày bản chất tàn bạo, giả dối của chế độ thực dân Pháp. Cũng với nghệ thuật ấy, Người bày tỏ thái độ khinh bỉ đối với bọn vua quan bù nhìn bán nước cầu vinh, chỉ riêng đối với sự kiện Khải Định sang Pháp dự cuộc Đấu xảo thuộc địa. Nguyễn Ái Quốc đã sáng tác truyện ngắn Lời than vãn của bà Trưng Trắc và vở kịch Con rồng tre lên án và chế giễu sâu cay ông vua bù nhìn. Nhân kỉ niệm một năm chuyến đi ô nhục ấy, Nguyễn Ái Quốc lại viết truyện ngắn Vi Hành, biến Khải Định thành đối tượng của những cuộc đàm tiếu khinh bỉ…

Vấn đề đặt ra cho tác giả là phải sáng tạo một hình thức nghệ thuật mới để không lập lại chính mình. Sự thành công của tác phẩm Vi hành đã chứng tỏ tài năng nghệ thuật dồi dào, sắc bén của nhà văn Nguyễn Ái Quốc.
Thật vậy, nếu trong hai tác phẩm Lời than vãn của bà Trưng Trắc và Con rồng tre, Khải Định trực tiếp xuất hiện, thì ở đây, trong tác phẩm Vi hành, vua Khải Định vắng mặt. Vậy làm thế nào để cho Khải Định xuất hiện,đặng nhận lấy lời đàm tiếu nhục nhã và lời tố cáo sắc bén? Nguyễn Ái Quốc đã dùng biện pháp hóa không thành có- biện pháp hiểu lầm, nhận lầm một người An Nam là nhà vua đi “vi hành”, để tố cáo, chế giễu một cách cay độc. Ai là người có thể nhận lầm như vậy?

Đó không thể là người An Nam, thần dân của ngài. Đó chỉ có thể là người dân Pháp hiếu kì và từ lâu đã không xem vua chúa như một đấng bề trên. Nguyễn Ái Quốc đã sáng tạo nên một đôi nam nữ người Pháp nhận lầm vua An Nam trên xe điện, và truyện ngắn mở đầu bằng cuộc tranh luận của họ. Chàng trai quả quyết đó chính là nhà vua, còn cô gái, người đã thấy nhà vua ở trường đua thì quả quyết là không phải, vì thấy thiếu mũmăng, nhẫn vàng, hạt cườm. Từ hai cách hiểu ấy mở ra hai hướng đàm tiếu: đàm tiếu về trang phục nhà vua và đàm tiếu về việc “vi hành” của ông.

Việc đàm tiếu về trang phục nhà vua do đôi thanh niên nam nữ người Pháp thực hiện. Lợi dụng cách cảm nhận ngộ nghĩnh của họ đối với cách ăn mặc xa lạ. Nguyễn Ái Quốc đã biến ông vua thành một trò cười rẻ tiền: đầuđội chụp đèn, quấn khăn, tay đeo đầy nhẫn, mũi tẹt, mắt xếch, mặt bủng như quả chanh, không một chút uy nghi, đường bệ. Hơn thế, người bạn gái đã trông thấy nhà vua, hình dung vua là người “đeo lên người hắn đủ cả bộ lụa là, đủ cả bộ hạt cườm“, y như một mụ đàn bà.

Còn người thanh niên thì xem vua như một trò vui mắt không phải mất tiền như xem “vợ lẽ nàng hầu vua Cao Miên”, hoặc “trò leo trèo, nhào lộn của sư thánh xứ Công Gô”. Thậm chí còn tung tin Nhà hát Múa rối định ký hợp đồng thuê nhà vua biểu diễn! Thật không còn lời báng bổ, khinh miệt nào hơn đối với một đức Hoàng Thượng! Nhưng đó là sựthật: Khải Định chỉ đóng được một vai hề rẻ tiền trong lịch sử!

Việc đàm tiếu về truyện “vi hành” do kẻ bị nhận lầm – tác giả bức thư gửi cho cô em họ – thực hiện qua lời tâm sự trong thư. Đây là lời của một người An Nam, am hiểu nội tình nước Nam. Ở đây Nguyễn Ái Quốc dùng biện pháp “quá mù ra mưa” – nhân có người nói nhà vua “vi hành”, thế là người anh họ trong thư liền liên hệ với các cuộc “vi hành” của các vị vua vĩ đại như vua Thuấn, vua Pie, và bình luận nhạo báng về cuộc “vi hành” tưởng tượng của vua Nam. Đây là một đoạn văn nữa mỉa mai sắc bén, từ nào cũng nhằm phơi trần thân phận và nhân cách hèn hạ của tên vua.

Biện pháp “quá mù ra mưa” lại được sử dụng thêm một lần: nhân việc người Pháp nhận lầm vua Nam, tác giả đẩy xa hơn: phổ quát hóa sự nhận lầm để châm biếm việc cảnh sát Pháp theo dõi người yêu nước Việt Nam trên đất Pháp:”… tất cả những ai ở Đông Dương có màu da trắng đều là những bậc khai hóa thì bây giờ đến lượt tất cả những ai có màu da vàng đều trở thành Hoàng đế ở Pháp”. Trở thành Hoàng đế thì được sự chăm sóc, theo dõi của cảnh sát và đó là nỗi phiền hà cho những ai da vàng.

Đến đây ta thấy “Vi hành” rõ ràng là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo lạ lùng. Ai cũng thấy là tác giả bịa, nhưng là một sự bịa đặt khéo léo, tài tình, hợp lí, có khả năng tố cáo sâu sắc và do đó mà gây thú vị cho người đọc. Có thể nói là tác giả đã dùng phép “đà đao”, nhân sự hiểu lầm của mấy người Pháp mà đưa ngòi bút sắc bén đánh trúng vào chỗ trí mạng của tên vua. Ở đây người ta thấy sức mạnh nghệ thuật được sửdụng một cách nhẹ nhàng, dí dỏm, đắc địa.

Xem thêm:  Kể chuyện tưởng tượng

Ngoài việc xây dựng cốt truyện khéo léo, việc không có mà như có thật, bút pháp mỉa mai, châm biếm của tác giả thể hiện ở các pháp ví von dí dỏm rất “Tây“: mũ miện của vua thì ví với chụp đèn, ngọc quý thì ví với hạt cườm, nhìn vua thành con rối, so hắn với hề Saclô, đặc biệt, ngòi bút mỉa mai của tác giả chỉa thẳng một lúc vào hai đối tượng: thực dân và phong kiến.

Ta hãy xem tác giả viết trong thư: “Phải chăng là ngài muốn biết dân Pháp, dưới quyền ngự trị của bạn ngài là Alêchxăng đệ Nhất, (…) có được uống nhiều rượu và được hút nhiều thuốc phiện bằng dân Nam, dưới quyền ngự trị của ngài, hay không?(…). Hay là, chán cảnh làm một ông vua to, giờ ngài lại muốn nếm thử cuộc đời các cậu công tử bé?”. Những nghi vấn thật là mỉa mai! Và đây là lời mỉa mai cảnh sát Pháp: “Các vị chẳng nề hà chút công sức nào để bảo vệ bọn tôi, và giá có được trông thấy các vị ân cần theo dõi tôi chẳng khác bà mẹ hiền rình con thơ chập chững bước đi thứ nhất, thì hẳn cô phải phát ghen lên được về nỗi niềm âu yếm của các vị đối với tôi. Có thể nói là các vị bám lấy đế giày tôi, dính chặt với tôi như hình với bóng…”

Biết bao chua chát, cay đắng trong nụ cười ở đây! Đó là nghệ thuật mỉa mai, châm biếm có tính chất chính luận hết sức già dặn. Tất cả các chữ dùng đều được sử dụng rất đắt và phát huy tác dụng châm biếm tối đa. Chẳng hạn gọi vua Pháp là “bạn” của vua Nam hoặc nói cảnh sát Pháp theo dõi như ”mẹ hiền rình con thơ” v.v… và v.v…

Tóm lại, nghệ thuật độc đáo và bút pháp mỉa mai châm biếm bậc thầy của thiên truyện đã chứng tỏ tài nghệsiêu việt, phong phú của Nguyễn Ái Quốc, chứng tỏ một thành tựu sắc sảo của nghệ thuật cách mạng giàu tính chiến đấu.

Phân tích truyện ngắn Vi hành của Nguyễn Ái Quốc – Bài làm 5

Vi hành được sáng tác vào dịp vua bù nhìn Khải Định của triều đình nhà Nguyễn xin thực dân Pháp cho sang Pháp để dự cuộc triển lãm thuộc địa tổ chức ở Mác-xây (Marseille). Trong thời gian này, dư luận cho rằng Khải Định có một số việc làm ám muội. Bất bình trước thái độ và hành động làm tổn thương tới quốc thể ấy, Nguyễn Ái Quốc viết truyện này nhằm mục đích lột trần chân tướng của một tên vua bán nước.

Cái độc đáo của truyện thể hiện ngay ở cách đặt tên với hàm ý giễu cợt, đả kích nhẹ nhàng mà thâm thuý, sâu cay. Vi hành vốn dĩ là cách gọi những cuộc di kín đáo của các bậc vua chúa ngày xưa, mục đích là được tai nghe mắt thấy hiện thực đời sống dân chúng, từ đó có chính sách cai trị đúng đắn hơn, hợp lí hơn. Nhưng ở đây tác giả đã lồng cho Vi hành một ý nghĩa hoàn toàn ngược lại: để ám chi những cuộc đi lén lút, bất chính, cốt thỏa mãn những lạc thú cá nhân của Khải Định.

Tác giả khôn khéo trình bày truyện dưới hình thức một bức thư gửi cho cô em gái. Thực ra đây là truyện hư cấu một trăm phần trăm. Nhưng cái tài của tác giả là bịa mà như thật, còn hơn cả sự thật. Toàn bộ câu chuyện là một xâu chuỗi những sự hiểu lầm ngày càng tăng. Đôi trai gái người Pháp lầm người thanh niên da vàng ngồi cạnh là Khải Định. Dân chúng Pháp lầm tất cả những người da vàng, mũi tẹt, mắt xếch trên đất Pháp là vua xứ An Nam. Đến ngay chính quyền Pháp cũng lẫn lộn không phân biệt đâu là Khải Định, đâu là kẻ đang bị theo dõi (Nguyễn Ái Quốc) nên lầm tưởng mà đối xử như với vua xứ An Nam. (Nguyễn Ái Quốc đi đâu chúng cũng cho tay sai đi theo đến đó). 

Sự thật thì không bao giờ có chuyện nhầm lẫn buồn cười như vậy. Tác giả đã khéo bịa ra các tình huống như thật dưới hình thức như đùa. Nguyên nhân của xâu chuỗi nhầm lẫn tai hại trên là do các cuộc vi hành của Khải Định.

Qua lời trò chuyện của đôi trai gái người Pháp, người đọc có thể hình dung ra Khải Định với những nét lố bịch: mặt mũi ngây ngô, điệu bộ lúng ta lúng túng, quần áo, mũ mãng lố lăng… Thái độ của dân chúng Pháp là khinh bỉ, coi thường hắn.

Để cho câu chuyện đạt được hiệu quả châm biếm, đả kích cao nhất, tác giả đã xen kẽ những đoạn đối thoại của đôi thanh niên Pháp với những đoạn kể chuyện cho cô em họ nghe. Nhân vật cô em họ cũng là sản phẩm của hư cấu, là phương tiện để Nguyễn Ái Quốc trực tiếp tố cáo tội lỗi của tên vua bù nhìn Khải Định đã thừa lệnh thực dân Pháp đầu độc nhân dân ta bằng rượu và thuốc phiện, đẩy họ vào tình trạng sống khốn cùng, bế tắc.

Sự độc đáo còn thể hiện ở cách dẫn chuyện dí dỏm của tác giả. Ngòi bút biến hóa linh hoạt, hấp dẫn, văn ngắn gọn và súc tích, hàm chứa nhiều ý nghĩa. Chất hài hước trong truyện vừa mang tính sôi nổi của phương Tây vừa mang tính thâm trầm, sâu sắc của phương Đông.

Truyện ngắn Vi hành chứng minh cho sức tung hoành của ngòi bút đầy sáng tạo Nguyễn Ái Quốc. Truyện được viết nhằm mục đích chính trị rõ ràng nhưng vẫn là một tác phẩm văn chương đích thực. Nó xứng đáng tiêu biểu cho phong cách văn xuôi Nguyễn Ái Quốc.

Phân tích truyện ngắn Vi hành của Nguyễn Ái Quốc – Bài làm 6

Sinh thời, Bác Hồ không có ý định trở thành một nhà văn, nhà thơ, Người chỉ khiêm tốn tự nhận mình là bạn của nhà văn nghệ, là người yêu nghệ thuật. Nhưng, trên bước đường hoạt động cách mạng, Người đã nhận ra tác dụng to lớn của văn chương, Người đã nắm lấy, mài sắc nó và trở thành một nhà văn, nhà thơ ngoài ý muốn. Ở mỗi thể loại, Người đều để lại những dấu ấn về phong cách với những vẻ đẹp lấp lánh khác nhau: khi thì cổ điển và hiện đại trong thơ ca, khi thì giàu chi tiết sống, chân thực, sắc sảo, giàu tri thức văn hoá như trong bút kí, và khi thì “chất trí tuệ và tính hiện đại là những  nét đặc sắc của truyện ngắn Nguyễn Ái Quốc”. Truyện ngắn “Vi hành” Bác sáng tác vào những năm 20 ở Pháp đã thể hiện rất rõ những nét phong cách đó.

Trong số những tác phẩm Nguyễn Ái Quốc viết những năm 20 ở Pháp để đả kích Khải Định, "Vi hành" nổi lên là một tác phẩm thành công hơn cả. Nhiệt tình yêu nước của nhà cách mạng trẻ tuổi bắt gặp những hành vi mờ ám của Khải Định trong chuyến Pháp du là tiền đề cho sự ra đời của "Vi hành", một áng văn chương đích thực được sử dụng nhằm mục đích chính trị, xã hội…

Người ta thường nói nhiều đến những áng văn “quý hồ tinh bất quý hồ đa” (cần tinh mà không cần nhiều). "Vi hành" là một áng văn chương như thế. Lời thật ít, cốt truyện hầu như không có, chỉ là kể lại những gì mà nhân vật “tôi” mắt thấy tai nghe trên chuyến tàu điện và trên đất Pháp, thỉnh thoảng có xen vào những lời văn như là tâm sự nhẹ nhàng, vậy mà đã nói lên được bao nhiêu điều. Ấy chính là cái “tinh” đáng quý, đáng trọng của "Vi hành".

Nói đến chất trí tuệ là nói đến cái sắc sảo, cái thâm thuý, cao sâu. Ở "Vi hành"cũng có một kiểu châm biếm thâm thuý và sâu sắc như vậy. Rõ ràng tác phẩm được viết với mục đích chính trị là tố cáo Khải Định "Vi hành", nhưng trong cả tác phẩm người viết dường như chỉ là nhiệm vụ tường thuật những câu chuyện về Khải Định. Nhà văn đã dựng lên một cuộc lầm lẫn lộn tùng phèo: một đôi trai gái trên chuyến tàu điện tưởng nhầm tác giả là Khải Định, họ nhìn “tôi” bằng một con mắt tò mò, thực chất là đang rất chú ý và bàn tán nhưng lại là ra vẻ không để ý gì. Vậy là, qua câu chuyện giữa đôi trai gái, hình ảnh Khải Định cứ dần dần hiện lên với “cái mũi tẹt”, “mắt xếch”, da bủng như vỏ chanh, đầu đội cái “chụp đèn”, ngón tay đeo “đầy nhẫn”.Rồi hắn còn khoác lên mình đủ bộ lụa là, hạt cườm. Chà, mới chỉ đến vậy thôi đã dựng lên một chân dung hết sức lố bịch, nực cười. Khải Định y như một cái “ma nơ canh” vậy (!). Thật tài tình và cũng thật thâm thuý, với một cách tường thuật khách quan như vậy, dưới con mắt của những người Pháp, Khải Định càng trở nên nực cười hơn. Giả sử, cứ để cho “tôi” hay một người Việt Nam nào đó nói về Khải Định thì có lẽ hắn cũng không hiện lên thảm hại đến vậy. Lại còn những hành vi mờ ám của hắn nữa chứ, thôi thì chỗ nào cũng có mặt: ở “tiệm cầm đồ”, “trường đua”, thậm chí còn gửi lại tất cả những “hành lí” những “ông quan bà kiếc” ở nhà ga để “đi chơi vi hành”. Chỉ những lời đối thoại của đôi trai gái cũng đủ để gây cười rồi. Bộ mặt và bản chất của Khải Định hiện lên lố bịch hơn và khách quan hơn. Đường đường là một ông vua mà ra đường được dân chúng “đón tiếp”, “chào mứng” bằng những câu… rất Pháp: “hắn đấy”, “xem hắn kìa”, lại còn có một “anh vua” nữa chứ. Hàng loạt những chi tiết gây cười, mà toàn những chi tiết được ghi lại khách quan trên đường phố đấy chứ! Trong con mắt của đôi trai gái, của người dân Pháp, Khải Định chẳng khác nào một thằng hề, thậm chí rẻ tiền hoặc không mất tiền. Người dân Pháp mất mấy nghìn Phơrăng để xem “vợ lẽ nàng hầu vua Cao Miên” hay xem trò“nhào lộn của sư thánh xứ Công Gô”. Còn khi Khải Định đến, họ chẳng mất xu nào mà vẫn được xem “anh vua” đang ở ngay trước mắt. Khải Định đến Pháp thật đúng lúc, khi mà cái kho giải trí của người Pháp “cạn ráo?”.: “Nghe nói ông bầu nhà hát múa rối có ý định kí giao kèo thuê đấy!”. Chỉ một câu văn ngắn thôi mà nói lên được bao nhiêu điều về vai trò của Khải Định trên đất Pháp, chẳng qua chỉ là một thằng hề đang sắm vai theo sự hướng dẫn của “mẫu quốc Pháp”(!).

Giọng văn như dửng dưng, lãnh đạm, nhưng thực ra đã tạo nên một hiệu quả châm biếm tuyệt đối. Một bức chân dung, một bản chất của “đức ông Khải Định” hiện lên thật hoàn chỉnh. Cái trí tuệ, cái sâu sắc của ngòi bút nhà văn chính là ở chỗ đã tạo nên một kiểu “bịa” mà “rất nghệ thuật”. Thử hỏi làm sao lại có sự nhầm lẫn tai hại đến vậy? Người dân Pháp đã đành, lại còn cả chính phủ cũng không nhận ra“thượng khách” của họ, nên để “tránh thất thố trong ngoại giao”, “nhà cầm quyền Pháp đã sai người bảo vệ tất cả những ai có màu da vàng”. Nghiễm nhiên, tất cả người Việt Nam trên đất Pháp trở thành hoàng đế! Nhưng “bịa” đấy để mà nói lên sự thật, một sự thật trăm phần trăm được thể hiện dưới một hình thức “bịa”. Có một sự thật không hề xuyên tạc – ấy là việc Khải Định "Vi hành" làm những việc mờ ám, không chính đáng trên đất Pháp.

Hành động của Khải Định đã khiến cho những nhà yêu nước ở Pháp lúc đó như Phan Chu Trinh cũng phải lên tiếng. Vốn là người Việt Nam yêu nước, căm ghét ách thống trị của bọn phong kiến thực dân, nên Nguyễn Ái Quốc đã sáng tác những tác phẩm bày tỏ thái độ lên án, tố cáo Khải Định. Nhưng, không như các tác phẩm khác, "Vi hành" quả có một lối châm biếm hết sức sắc sảo và thâm thuý. Với việc dựng lên một tình huống nhầm lẫn, nhà văn đã gián tiếp lên án Khải Định – lấy cái nhìn khách quan của người Pháp để tố cáo Khải Định thì thật là khách quan và trí tuệ. Khải Định hiện lên cụ thể hơn, lố bịch hơn, trơ trẽn và dơ dáy hơn. Chính phủ Pháp cũng không thể bắt bẻ nhà văn được, chẳng qua “tôi” chỉ nói lên sự thật. Đấy là thái độ của mọi người đối với Khải Định, chứ không phải là thái độ của người cộng sản Nguyễn Ái Quốc tố cáo một tên vua bù nhìn bán nước. Vậy là, đâu cần phải nhiều lời văn vẫn nói được nội dung mình cần nói, mà nói một cách đầy nghệ thuật nữa chứ!.

Lại nữa, thi thoảng nhà văn cũng xen vào những lời như là trò chuyện, tâm sự với cô em, những câu hỏi “hay là” thật lấp lửng, tả thì ít mà gợi thì nhiều. Cái sở trường của lối văn trữ tình thâm thuý là ở chỗ đó. Nhà văn đặt ra những câu hỏi “hay là ngài muốn xem dân Pháp dưới quyền cai trị của bạn ngài là Alêchxăng đệ nhất có được uống nhiều rượu và hút nhiều thuốc phiện như dân An Nam hay không?”, “hay là ngài muốn đi thực tế để mang về văn minh cho nhân dân An Nam ngu dốt?”, “ hay là chán cảnh làm một ông vua to, ngài lại muốn nếm thử cuộc đời các cậu công tử bé?”. Những câu hỏi dồn dập như vậy tưởng như những lời luận bàn ngoài lề nhưng lại mang hiệu quả châm biếm rất cao. Vai trò của Khải Định thế là đã rõ. Thật là lối châm biếm của một bậc cao nhân phương Đông. Nói ít mà gợi nhiều, đó là một lối văn “ý tại ngôn ngoại” rất truyền thống của người phương Đông. Nguyễn Ái Quốc đã tiếp thu những tinh hoa văn hoá của người Việt và người phương Đông để phục vụ mục đích chiến đấu của mình. Đòn đánh của nhà cách mạng trẻ tuổi vào Khải Định không phải là những nhát roi quất mạnh vào bộ mặt dơ dáy của hắn mà chỉ bằng cười ruồi, nói mát. Người phương Đông thường nói với nhau: nói nhiều khi còn đau hơn vả đánh. Nhiều lời nói đặt ra đúng nơi, đúng chỗ và đúng đối tượng nhiều khi tạo nên một hiệu quả rất lớn. Bắt nguồn từ truyền thống thơ ca dân gian, truyện dân gian, Nguyễn Ái Quốc đã vận dụng nó một cách đầy sáng tạo vừa cổ điển, trí tuệ của một bậc “đại trí” là vừa rất mực hiện đại của một nhà cách mạng trẻ tuổi mang trong mình một tinh thần của thời đại mới.

"Vi hành" dựng lên một tình huống nhầm lẫn, ấy là chỗ giống với các tác phẩm văn học dân gian, nhưng chỗ khác, chỗ hiện đại ở đây chính là tình huống nhầm lẫn được sử dụng như một bút pháp, một khuynh hướng chủ đạo quán xuyến toàn bộ tác phẩm. Việt Nam ta có truyện dân gian Trạng Lợn nổi tiếng, nhưng cuối cùng thực chất của Trạng Lợn cũng được bộc lộ. Còn ở đây, từ đầu đến cuối tác phẩm vẫn là một tình huống nhầm lẫn. Có thể nói, tư tưởng chủ đạo của tác phẩm"Vi hành" được xây dựng xung quanh trục nhầm lẫn. Đó là cái mới, cái sáng tạo của nhà văn. Với cách viết ấy, dường như bản chất của Khải Định được khẳng định rõ ràng và chắc chắn hơn. Khải Định là một tồn tại thật chứ không phải là của truyện dân gian, được nhân dân xây dựng trên cơ sở hư cấu và cường điệu. Một lần nữa, bản chất của Khải Định cùng cái bộ mặt dơ dáy, trơ trẽn của tên vua bù nhìn như “bị đóng đinh, cột chặt vào lịch sử đất nước”.

"Vi hành" viết dưới hình thức một bức thư. Ngay ở dưới tên tác phẩm nhà văn đã đề rõ “Trích những bức thư gửi cô em họ do tác giả tự dịch từ tiếng Nam”. Thư là một hình thức mới lạ với người phương Đông nhưng là rất quen thuộc với người Pháp, người châu Âu. Đã có “Những bức thư Nam Tư”, “Những bức thư từ cối xay gió” của người châu Âu. Do hoạt động trên đất Pháp, mục đích của Nguyễn Ái Quốc là nói cho người Pháp hiểu được bản chất thật của Khải Định, tính chất bịp bợm của chính quyền thực dân, nên sử dụng hình thức viết thư quen thuộc của người châu Âu là hay hơn cả. Đây là một minh chứng cho sáng tác của Nguyễn Ái Quốc: hình thức tác phẩm phải phù hợp với mục đích và đối tượng hướng tới. Đây cũng là một nét hiện đại trong sáng tác của Người. Một thái độ phê phán rất mực trí tụê và thâm thuý mang phong vị Á Đông, được diễn tả dưới một lối văn Tây phương hiện đại. Trên bước đường hoạt động của mình, Bác đã tìm ra những hình thức sáng tác biểu đạt được cao nhất mục đích của mình. Cái đích cần đi đến là tố cáo Khải Định và bọn quan thầy thực dân trước công chúng Pháp, do đó không có gì tốt hơn là viết dưới hình thức văn chương quen thuộc và sở trường của họ.

Vậy là, chất trí tuệ đã hoà hợp với hình thức biểu đạt hiện đại trong một bức thư.

Một đặc điểm của thư (tác phẩm trữ tình) là gợi nhiều hơn tả, có khi chỉ một câu mà nói lên được bao điều. Hình thức gợi nhiều hơn tả vừa thể hiện chất trí tuệ, thâm thuý cao siêu, đồng thời lại hiện đại. Tính hiện đại được tạo nên từ chính mục đích sáng tác của nhà văn không phải thâm thuý để đi vào một hiện tượng siêu hình không thể lí giải, cắt nghĩa nổi, mà để tố cáo tên vua bù nhìn bán nước và quan thầy cướp nước. Do đó vừa thâm thuý vừa tinh ý cũng lại rất mực rõ ràng.

Người châu Âu thường có lối giễu bằng cười cợt, cách nói của Bác đúng là một thứ giễu, mà lại là “giễu chết tươi”! Hình thức viết thư mang lại hiệu quả cao. Nhà văn thoải mái chuyển cảnh, chuyển giọng văn mà hơi văn, ý văn vẫn liền mạch. Trong "Vi hành" không phải chỉ có giọng châm biếm, mỉa mai sâu cay mà còn có cả những giọng tâm tình thủ thỉ giữa “tôi” và cô em họ. Nhưng những lời tâm sự tưởng như bâng quơ không chủ đích thế lại tạo ra những khoảng trống ngân vang trong tâm hồn người đọc. Sau việc thuật lại những câu chuyện về Khải Định là lời “tôi” nói với cô em họ, những hồi tưởng về những kỉ niệm tuổi ấu thơ, những khi “tôi” và “cô” còn ngồi vắt vẻo trên đùi ông bác và nghe kể chuyện về ông vua Pie bên Nga. Và nhân đó lại liên tưởng ngay đến Khải Định "Vi hành", nhưng không phải để thăm thú lương dân mà chỉ là để thoả mãn những ham muốn thấp hèn của mình. Dù có chuyển cảnh, chuyển giọng một cách tự nhiên tưởng như không nằm trong câu chuyện về Khải Định lại tạo ra những liên tưởng, những góc nhìn khác nhau về Khải Định. Chẳng qua những lời “nói thêm” tưởng chừng bâng quơ ấy là để tạo hiệu quả cao hơn cho mục đích tố cáo của mình đấy thôi. Tác giả quả là không hề có cảnh thừa, từ ngữ thừa, ý tứ thừa. Từ nào, câu nào, cảnh nào cũng lấp lánh toả sáng tầm tư tưởng nhân sinh.

Lối viết thư rất Pháp tạo nên một kiểu viết biến hoá kì thú. Ngòi bút trong tay Nguyễn Ái Quốc dường như linh diệu hơn: khi dựng cảnh, khi dựng người, khi là cảnh ở Trung Quốc, khi ở Pháp, khi ở Việt Nam, thậm chí khi ở Nga. Hình thức viết thư được sử dụng khiến cho tác giả dựng cảnh, chuyển cảnh dễ dàng linh hoạt. Những cảnh tưởng như đã xa xưa lắm từ thời vua Nghiêu, vua Thuấn, những kỉ niệm của tuổi ấu thơ, tất cả đều được đặt cạnh nhau cùng lúc với bút pháp “đồng hiện”. Giọng văn vừa mới mỉa mai thâm thuý lại vui tươi hóm hỉnh. Cái thâm thuý là của một bậc đại trí phương Đông, cái hóm hỉnh rất Pháp là của nhà cách mạng trẻ tuổi đang tràn đầy nhiệt huyết. Trong "Vi hành" có cả hai đặc điểm đó. Vẻ đẹp của"Vi hành" chính là sự toả sáng của trí tuệ phương Đông và hiện đại phương Tây được kết tinh nơi ngòi bút của Người.

Trong "Vi hành" có một thứ ngôn ngữ rất hiện đại. Lối văn biến hoá kì thú và ngòi bút của nhà văn thì tha hồ tung hoành trên một phạm vi rất rộng. Vì vậy "Vi hành" đả kích Khải Định nhưng cũng là đả kích bọn vua thầy thực dân. Chẳng phải thế sao? Nguyễn Ái Quốc để đôi trai gái trên tàu phát biểu về Khải Định nhưng cũng gián tiếp nói lên thực chất của xã hội Pháp: thanh niên ham sống vì danh tiếng, háo danh, không có lí tưởng, thích săn những tin giật gân trên báo chí, người dân thì không văn minh. Còn chính phủ Pháp? Chà, đây mới là chỗ cần nói thì ra, những kẻ luôn làm nhiệm vụ của một “bảo mẫu bám lấy đế giày tôi”, lo lắng khi “chỉ mất tôi trong dăm phút”, rồi “như hiền rình đứa con thơ chập chững bước đi thứ nhất”… Thực chất đây chính là việc kiểm soát gắt gao chính phủ đối với những người Việt Nam yêu nước trên đất Pháp lúc đó mà nhà văn đã  nói lên bằng những câu vui, hóm hỉnh, nhưng thâm thuý, sâu sắc. Vậy là một mũi tên trúng hai đích: vừa đả kích Khải Định, vừa vạch trần được bản chất của xã hội văn minh “mẫu quốc Pháp”. Một lối viết kì thú tuyệt vời như vậy không dễ gì đạt được ở những tác phẩm khác, kể cả tác phẩm của Người.

"Vi hành" đã rất thành công trong khi xây dựng những mâu thuẫn trong cùng một hiện tượng: đó là mâu thuẫn giữa bản chất và hình thức. Trong Khải Định là mâu thuẫn giữa địa vị cao sang của một thiên tử và một bản chất đồi bại của những kẻ ham chơi bời, thích sang. Trong chính quyền thực dân đó là mâu thuẫn giữa những khẩu hiệu mà chúng rêu rao ở An Nam với bản chất thật của xã hội thiếu văn minh, văn hoá. Tất cả được đặt trong thế đối lập tạo nên những tiếng cười ruồi chua chát, sâu cay.

Trí tuệ và hiện đại, đó là hai nét đặc sắc trong phong cách viết truyện ngắn Nguyễn Ái Quốc. "Vi hành" đã thể hiện đầy đủ những vẻ đẹp đó. Vẻ đẹp của phong cách cũng là vẻ đẹp của con người – văn là người. Đúng vậy, văn của Bác thể hiện con người của Bác. Nhưng, chẳng qua nếu phải nói một câu về Người thì chỉ có thể nói giản dị thế này thôi: tất cả những hành động của Người, những tác phẩm của Người viết ra dù ở thể loại nào, phong cách nào cũng là để đạt được một điều mà Người mong muốn – độc lập của nước, hạnh phúc của dân. Hiểu như vậy, ta càng yêu kính hơn một con người “đại nhân, đại trí, đại dũng”. Cái “trí”, cái “dũng” chẳng qua là vì cái “nhân” cao cả đấy thôi!

"Vi hành" cho ta một cái nhìn sâu sắc và toàn diện về văn phong Nguyễn Ái Quốc. Người đã vô tình đánh rơi vào kho tàng văn học những viên ngọc quý hay những đoá hoa thơm. "Vi hành" là một viên ngọc, một đoá hoa như thế mà mỗi chi tiết, mỗi tình huống đều như muốn sáng lên vẻ đẹp của trí tuệ và tinh thần hiện đại Hồ Chí Minh!

Xem thêm:  Phân tích tác phẩm Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi

Từ khóa tìm kiếm:

Post Comment