Soạn văn lớp 11 tập 1 rút gọn

Tuần 9 – Viết bài làm văn số 3: Nghị luận văn học

Tuần 9 – Viết bài làm văn số 3: Nghị luận

Hướng dẫn

I – ĐỀ BÀI THAM KHẢO

Rèn luyện kĩ năng viết bài văn học theo các đề bài trong SGK.

1. So sánh tài sắc của Thuý Vân và Thuý Kiều được thể hiện trong đoạn trích (SGK, tr. 92).

2. Nguyễn Khuyến và có nỗi niềm tâm sự giống nhau nhưng giọng thơ khác nhau như thế nào? Hãy làm rõ ý kiến của mình.

3. Viết một bài văn về vẻ đẹp của hình tượng người nông dân trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của .

4. Viết một vài điều anh (chị) thấm thía nhất qua tìm hiểu cuộc đời và thơ văn Nguyễn Đình Chiểu.

II – GỢI Ý LÀM BÀI

Đề 1. Các ý chính:

– So sánh tài sắc của Thuý Vân và Thuý Kiều, Nguyễn Du đã tả Thuý Vân bằng những câu thơ:

Vân xem trang trọng khác vời,

Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.

Hoa cười, ngọc thốt, đoan trang,

Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.

Vẻ đẹp của Thuý Vân là vẻ đẹp đoan trang, phúc hậu. Nó là vẻ đẹp của sự hài hoà và dung hoà được với "xung quanh".

– Vân đã đẹp, Kiều càng được tả đẹp hơn:

Kiều càng sắc sảo mặn mà,

So bề tài sắc lại là phần hơn:

Làn thu thuỷ, nét xuân sơn,

Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh.

Một hai nghiêng nước nghiêng thành,

Sắc đành đòi một tài đành hoạ hai.

Thuý Kiều chẳng những rất đẹp mà còn tài hoa nữa: Kiều giỏi thơ, giỏi hoạ, giỏi đàn,… Và tâm hồn đa sầu, đa cảm ấy còn tìm đến những khúc ca ai oán:,

Xem thêm:  Đấu tranh cho một thế giới hòa bình

Khúc nhà tay lựa nên chương,

Một thiên “bạc mệnh” lại càng não nhân.

– Tả Thuý Kiều và Thuý Vân, Nguyễn Du chịu ảnh hưởng bởi quan niệm tạo hoá hay ghen ghét với những người tài sắc (Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen). Qua cách miêu tả có thể thấy, tài sắc của Thuý Kiều như báo trước một cuộc đời dữ dội với đầy gian nan trắc trở sau này. Đoạn trích thể hiện kín đáo dụng ý nghệ thuật nêu trên của Nguyễn Du.

Đề 2. Các ý chính:

– Nguyễn Khuyến và Tú Xương là hai người cùng thời. Họ sống trong buổi đầu của thời đại thực dân nửa phong kiến ở nước ta với bao điều nhố nhăng, bất công, tàn ác,…

– Cả Nguyễn Khuyến và Tú Xương có chung nỗi niềm, đó là sự đau xót và căm ghét thực tại xã hội đương thời. Thế nhưng hoàn cảnh sống và thân thế của hai người khác nhau, khiến cho giọng thơ của họ có những điểm khác nhau khá rõ:

+ Nguyễn Khuyến đỗ đạt cao, có khoa danh, từng làm quan,… bởi thế mà nụ cười châm biếm trong thơ Nguyễn Khuyến mang tính chất nhẹ nhàng, thâm thuý (dẫn chứng trong các bài ông phỗng đá, Tiến sĩ giấy, Hội Tây,…).

+ Trong khi đó, Tú Xương đi thi tới tám lần mà chỉ đỗ tú tài, không được bổ dụng, cảnh nhà thì nheo nhóc, túng thiếu khiến cho giọng thơ châm biếm của Tú Xương mạnh mẽ, cay độc. Tú Xương đả phá tất cả:

Xem thêm:  Tuần 1 - Viết bài làm văn số 1: Nghị luận xã hội

Bọn quan lại:

Chữ y chữ chiểu không phê đến,

Ông chỉ quen phê một chữ tiền.

Đạo lí xã hội:

Nhà kia lỗi phép con khinh bố,

Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng.

Các bậc phu nhân:

Đôi đức bà lên mặt phu nhân,

Ngón đĩ thoã bà nào cũng nhất.

Đạo học:

Đạo học ngày nay chán lắm rồi,

Mười người đi học chín người thôi.

v.v.

Đề 3. Các ý chính:

– Hình ảnh người nghĩa binh nông dân hiện lên với những nét chất phác, giản dị, đúng là những người không quen chiến đấu:

Cui cút làm ăn; toan lo nghèo khó.

[…] Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm; tập khiên, tập súng, tập mác, tập cò; mắt chưa từng ngó.

– Họ vùng lên một cách hồn nhiên bởi lòng yêu quê hương đất nước nhưng rất mực nghĩa khí và với một tinh thần xả thân cứu nước hết sức quả cảm:

Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn; chín chục trận binh thư, không chờ bày bố.

[…] Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh; bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt, tàu đồng súng nổ.

Tinh thần chiến đấu của người nghĩa binh nông dân là tấm nghìn đời đáng ghi nhớ và .

Đề 4. Chỉ chọn trình bày những điều thấm thía và xúc động nhất của về cuộc đời và thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu. Có thể chọn trình bày một số điểm sau:

Xem thêm:  Tuần 16 - Thực hành về sử dụng một số kiểu câu trong văn bản

– Về cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu: Đây là một tấm gương sáng về và nghị lực sống, lòng yêu nước, thương dân và tinh thần bất khuất trước kẻ thù. Dù tàn tật, Nguyễn Đình Chiểu vẫn ghé vai gánh vác cả ba trọng trách mà một người lành lặn bình thường cũng khó bề đảm đương nổi là làm một thầy thuốc, một thầy giáo và một nhà thơ. Ở cương vị nào ông cũng làm việc và cống hiến hết mình.

– Về thơ văn, có thể chọn phát biểu về:

+ đạo đức, nhân nghĩa trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu.

+ Lòng yêu nước thương dân trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu.

Mai Thu

Post Comment