Văn mẫu lớp 10

Vẻ đẹp của hình tượng người nông dân trong “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu

Đề bài: Vẻ đẹp của hình tượng người nông dân trong “” của Nguyễn Đình Chiểu – Bài tập làm văn số 3 lớp 11

Bài làm

Vẻ đẹp của hình tượng người nông dân trong “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu – Hình tượng người nông dân dưới con mắt của cụ Đồ Chiểu thì họ đâu phải sinh để làm chàng Gióng Phù Đổng, Lê Lợi, Quang Trung,… tên tuổi lừng lẫy non sông. Mà những người nông dân họ chỉ quanh năm khoác trên mình màu áo nâu và gắn với ruộng đồng. Những người nông dân này như cũng thật bình dị và lam lũ biết bao nhiêu. Chỉ có điều họ cũng đã xuất hiện trong khung cảnh bão táp của thời đại như câu:

Hỡi ôi!

Súng giặc đất rền, lòng dân trời tỏ

Những người nông dân họ đâu đã quen nghi tiếng súng cơ chứ. Thế mà chính tiếng súng xa lạ ấy dường như cũng đã phá tan bình lặng của họ nơi đồng quê có những cánh cò bay. của người nông dân luôn bám chặt với ruộng đồng và như thật nghèo đói biết bao nhiêu. Có lẽ cũng chính cái nghèo đã làm họ thật nhỏ bé suốt ngày họ dường như cũng chỉ biết “cui cút làm ăn” mà không toan việc gì cả. Nhưng người ta cũng lại nhận thấy được cũng chỉ một câu văn ngắn gọn thôi thì Nguyễn Đình Chiểu cũng đã vẽ nên vòng đời luẩn quẩn không và như không lối thoát của người dân Việt Nam ta, người “dân ấp dân lân” ở Nam Bộ điều này như muốn nói lại bắt đầu với cui cút, và cũng thật vật lộn làm ăn để cuối cùng vẫn kết thúc trong nghèo khó. Thế rồi cũng chính sau luỹ tre làng ấy, họ biết sao được những “cung ngựa” hay làm sao mà có thể biết được những “trường nhung”… Thực tế mà nói thì cũng chính ngay trong cái nhìn của họ lúc này như cũng chỉ có “con trâu là đầu cơ nghiệp”. Và những người nông dân này cũng quanh năm chỉ biết đến việc cuốc, việc cày, bừa, khiên mà thôi cho nên đối với họ việc tập khiên, tập súng lại cũng thật là lạ lẫm.

Xem thêm:  Cách làm bài văn lập luận chứng minh

Thế rồi tất cả chúng ta dường như cũng vẫn mãi chỉ tưởng họ mãi cam chịu như thế mãi mãi. Ngược lại với đó thì khi mà quân dân ta lại đứng lên chung sức chung lòng không cho một ai có thể xâm chiếm đất nước ta. Nhất khi mà giặc đến chúng đang giày xéo lên từng mảnh ruống thì làm sao có thể được yên lòng, họ không nguôi lo âu một chút nào cả. Câu văn lại có đoạn: “Tiếng phong hạc phập phồng hơn mười tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa…”

phan tich ve dep cua nguoi nong dan trong van te nghia si can giuoc cua nguyen dinh chieu - Vẻ đẹp của hình tượng người nông dân trong “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu

Vẻ đẹp của hình tượng người nông dân trong “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu

Người đọc cũng sẽ nhận thấy “mùi tinh chiên vấy vá” ở đây cũng lại không thể chống mắt đứng nhìn, người nông dân cũng không thể ngồi yên mà đợi. Sự thật ở đây là triều đình đã “bỏ rơi” họ thật đau xót. Mặc dù là như vậy nhưng làm sao ngăn được tình yêu đất nước nồng nàn và đã khắc sâu ở trong tâm trí của họ. Chính những bọn xâm lăng kia dường như cũng lại đã cướp đi tất cả những gì gọi là máu thịt của họ. Từ cậu bé nhỏ bé tầm thường cũng đã bỗng chốc mà trở thành một tráng sĩ để có thể trở thành chàng Tháng Gióng cao lớn để góp sức của mình đánh đuổi quân thù cho quê hương. Và cho đến người nông dân học cũng mang trong mình dòng máu Lạc hồng nên họ cũng rất yêu nước đã biến thành lòng căm thù giặc đến sôi sục và đã được Nguyễn Đình Chiểu nói lên:

“Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan.

Ngày xem ống khói chạy đen sì muốn ra cắn cổ

Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắng đuổi hươu

Hai vầng nhật nguyệt chói loà, đâu dung lũ treo dê bán chó”

Dễ dàng có thể nhận thấy được chính lòng yêu Tổ quốc tha thiết xuất phát từ trái tim đã khiên họ trở nên đẹp đẽ, lấp lánh và đẹp hơn bao giờ hết. Thực sự người ta cũng là dòng máu Lạc Hồng cũng đã cứ cuộn chảy trong người cùng với cơn giận của lòng yêu nước mạnh hơn cả cái yếu hèn hơn nữa đó chính là mạnh hơn cái chết. Thế rồi chính cái khát vọng đánh giặc, hay đó cũng chính là những khát vọng chiến đấu để có thể bảo vệ quê hương, chung sức đồng lòng có thể “đợi tập rèn”, “ban võ nghệ”, hay là những chuyện “bày bố binh thư”, ở họ, người ta nhận thấy được cũng không bao giờ quan tâm đến chỉ riêng chính bản thân của mình lúc đó cũng chỉ có “một manh áo vải” mà thôi. Và đây cũng chính là bi kịch của nghĩa sĩ Cần Giuộc hay suy rộng ra đó là tấn bi kịch của thời kì nghiệt ngã ấy. Họ chính là nông dân nhưng bản thân họ cũng đã lại có khả năng làm kinh ngạc cả chiến trường. Vì thế nên họ cũng đã cất lên được tiếng ca thật hay và thấy được cả những tiếng nấc nữa. Sự chênh lệch về lực lượng về trang thiết bị vũ khí nhìn rất rõ qua câu miêu tả:

Xem thêm:  Cảm hứng độc lập dân tộc và tương lai đất nước trong “Bình Ngô đại cáo”

 “Chi nhọc quan quản Gióng trống kì trống giục…. súng nổ”

Thông qua đó thì người đọc cũng có thể được thật là sâu sắc cũng chính với hình tượng của người nghĩa sĩ áo vải được khắc nổi trên cảnh u ám khói bom ấy biết bao nhiêu. Ta không thể nào có thể không nhắc đến đó chính là những âm thanh vang động (hè trước, ó sau…) những động tác quyết liệt mà Nguyễn Đình Chiểu nói ở trong bài như “đốt”, “chém”. Thật ngạc nhiên biết bao nhiêu khi những người nông dân áo vải nghèo khó kia như cũng trở thành anh hùng. Với một tư thế quật cường và thật biết bao nhiêu. Tư thế quật cường như một người gánh vác được trách nhiệm của non sông, nêu được bật lên chân lý đúng đắn:

 “Thà thác mà đặng câu định khái, về theo tổ phụ cũng vinh, hơn còn mà phải chịu chữ đầu Tây ở với man di rất khổ”

Người đọc cũng cảm nhận thấy được tinh thần ấy, chúng ta cũng nhận thấy được chính những chí ấy vẫn chói lòa trong mỗi người dân Cần Giuộc. đã phải chịu nô lệ, tay sai của Tây thì thà một lần chiến đấu hết mình mà đem vinh quang cho dân tộc chúng ta:

“Ôi thôi thôi!”

Người đọc cũng có thể thấy được trong câu thơ ngắn này như lại giống một tiếng khóc đầy ai oán, em cũng nhận thấy được có một tiếng khóc đến quặn lòng. Và đó cũng chính là một tiếng khóc để tiễn biệt những người con Cần Giuộc, đó chính là những người như cũng mãi mãi nằm lại trên mảnh đất quê hương. Những người nông dân họ cũng đã ngã xuống nới chiến trường khói lửa. Và vì cũng cẫn còn đó nghiệp nước chưa thành, còn thấy được ở đây dường như lại thấp thoáng nơi đây bóng mẹ già và cũng chính với  ngọn đèn le lói trong đêm như câu văn:

Xem thêm:  Nghị luận văn học: Vì sao có thể nói văn học chân chính có khả năng nhân đạo hóa con người. Anh (chị) liên hệ với thực tế văn học

“Đau đơn bấy! Mẹ già lại ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều! Vợ yếu chạy tìm chống, cơn bóng xế dật dờ trứơc ngõ”.

Những người tử sĩ đã về chốn thiên cổ để lại giữa trần gian mẹ già, vợ yếu, con thơ… Người đọc cũng nhận thấy được cứ những ai đây họ sẽ ra sao khi cái nghèo vẫn còn đeo đuổi, đặc biệt là khi mà nợ nước trả chưa xong. Người sĩ tử luôn luôn canh cánh trong lòng thông qua câu văn:

“Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo thương vì hai chữ thiên dân, cây hương nghĩa sĩ thắp đèn thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ”. Thông qua đây thì chính Nguyễn Đình Chiểu dường như cũng đã bằng tấm lòng đồng cảm để nhìn thấy, ông cũng đã nghe thấy. Thông qua đó ông cũng đã dựng nên một tượng đài hoành tráng mà mộc mạc mang được cả những sự yêu thương. Dễ dàng có thể nhận thấy được chính duyên suốt trong nền nước nhà thì chính hình ảnh người nông dân đã được đi vào trong các tác phẩm với tư thế anh hùng là chưa từng có

Không thể phủ nhận được chính hình ảnh người nông dân khởi nghĩa trong bài văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc dường như cũng đã cho ta cái nhìn về cả một thời đại gian khổ. Mỗi con người chúng ta sẽ có quyền được tự hào thay những con người nhỏ bé nhưng vẫn hiên ngang trước thế lực bạo tàn.

Minh Nguyệt

Post Comment